Trang chủ Tin tức

Tổng quan một số điểm cần lưu ý về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trong quá trình soạn thảo và giao kết theo quy định pháp luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

19/10/2021 - Tổng quan một số điểm cần lưu ý về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trong quá trình soạn thảo và giao kết theo quy định pháp luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

      Trong bối cảnh cung – cầu tiêu dùng phát triển nhanh chóng hiện nay, hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung được đánh giá là một trong số các hình thức giao kết phổ biến, hiệu quả trong giao dịch giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (doanh nghiệp) và người tiêu dùng với ưu việt về tiết kiệm chi phí, thời gian (đi lại, đàm phán,…).
     Thông thường khi giao kết hợp đồng, các bên luôn muốn cụ thể hóa thỏa thuận về mục đích, đối tượng, quyền và trách nhiệm của mỗi bên,… thông qua nội dung của hợp đồng. Song xuất phát từ tính đơn phương trong soạn thảo, có không ít những hợp đồng theo mẫu được doanh nghiệp soạn thảo một cách sơ sài, đơn giản, thậm chí thiếu đi những nội dung mang tính nền tảng cho việc đảm bảo thực thi hợp đồng. Thậm chí, vì mục tiêu tối đa lợi ích và an toàn pháp lý cho mình (nếu xảy ra tranh chấp), một số doanh nghiệp thường “cài cắm” hoặc áp đặt những nội dung không công bằng, gây bất lợi cho người tiêu dùng trong hợp đồng. Do không được trực tiếp thỏa thuận, người tiêu dùng có thể sẽ phải đối mặt với những rủi ro, ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của mình một khi chấp nhận giao kết với những hợp đồng thiếu rõ ràng, không lành mạnh như vậy. 
      Để khắc phục thực trạng trên, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 (BVQLNTD) đã có những quy định liên quan đến việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung (HĐTM, ĐKGDC) nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Theo quy định của pháp luật BVQLNTD hiện hành, việc kiểm soát HĐTM, ĐKGDC có thể chia thành hai nhóm: (i) kiểm soát các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM, ĐKGDC theo Danh mục do Thủ tướng Chính phủ ban hành; và (ii) kiểm soát các hàng hóa, dịch vụ khác không thuộc phạm vi phải đăng ký.
      Tương ứng với hai nhóm HĐTM, ĐKGDC thuộc đối tượng phải kiểm soát nêu trên, có thể thấy Luật BVQLNTD và các văn bản hướng dẫn thi hành xác lập ba cách thức kiểm soát, bao gồm: 
      (i) tiền kiểm: thông qua cơ chế đăng ký HĐTM, ĐKGDC tại cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
      (ii) hậu kiểm: kiểm tra những HĐTM, ĐKGDC không thuộc phạm vi phải đăng ký trong quá trình tổ chức, cá nhân áp dụng những HĐTM, ĐKGDC này với người tiêu dùng.
      (iii) vừa tiền kiểm, vừa hậu kiểm: cơ chế đăng ký và kiểm tra việc áp dụng những HĐTM, ĐKGDC đã được chấp nhận đăng ký.
      Sau hơn 10 năm thực thi Luật BVQLNTD, công tác kiểm soát HĐTM, ĐKGDC đã đạt được những kết quả tích cực. Trong đó, việc rà soát, phát hiện và yêu cầu sửa đổi/hủy bỏ số lượng lớn những nội dung vi phạm, không đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng trong các HĐTM, ĐKGDC do doanh nghiệp soạn thảo để giao kết với người tiêu dùng có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần từng bước đảm bảo tính bình đẳng, lành mạnh trong giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng. 
      Cùng với sự kiểm soát của cơ quan nhà nước, sự đồng hành của người tiêu dùng, doanh nghiệp, các đối tượng có liên quan trong việc chủ động tìm hiểu, áp dụng và tuân thủ pháp luật cũng là yếu tố quyết định đến tính hiệu quả trong công tác kiểm soát HĐTM, ĐKGDC để duy trì môi trường kinh doanh tiêu dùng lành mạnh, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng. Theo đó, để người tiêu dùng, doanh nghiệp và các đối tượng liên quan có thể tham khảo, chủ động trong quá trình soạn thảo, giao kết các thỏa thuận tiêu dùng, nội dung dưới đây cung cấp một số điểm cần lưu ý về hình thức và tính phù hợp của các điều khoản HĐTM, ĐKGDC.
     1. Hình thức, ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung
     Các yêu cầu về hình thức được quy định tại Điều 7 Nghị định 99/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Nghị định 99/2011/NĐ-CP), bao gồm:
     - Ngôn ngữ sử dụng bằng tiếng Việt;  
     - Cỡ chữ tối thiểu 12;
     - Tính tương phản giữa nền giấy và màu mực thể hiện nội dung hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung.
     Đối với hợp đồng giao kết với người tiêu dùng nói chung, ngôn ngữ được quy định mang tính tùy nghi, tức là ngôn ngữ bằng tiếng Việt hoặc tiếng khác nếu các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (khoản 2 Điều 14 Luật BVQLNTD).       Tuy nhiên, đối với hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung (HĐTM, ĐKGDC), pháp luật đưa ra yêu cầu bắt buộc là ngôn ngữ phải bằng tiếng Việt để đảm bảo việc tiếp cận các điều khoản của hợp đồng cho mọi đối tượng người tiêu dùng cũng như cho quá trình giải quyết các tranh chấp phát sinh tại các cơ quan tài phán.
     Bên cạnh đó, pháp luật đưa ra quy định cỡ chữ tối thiểu và tính tương phản giữa nền giấy và màu mực để đảm bảo khả năng tiếp cận cho người tiêu dùng nhằm giúp họ dễ dàng đọc và hiểu rõ về các nội dung sẽ ràng buộc trách nhiệm của mình trước khi quyết định tham gia giao dịch. Ngoài ra, việc sử dụng loại phông chữ, cách thức bố cục, giãn cách dòng... tùy thuộc bên soạn thảo hợp đồng đưa ra.
     2. Tính đầy đủ về nội dung của hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung
     Luật BVQLNTD hiện hành chưa đặt ra quy định những nội dung tối thiểu/phải có trong hợp đồng theo mẫu, mà quy định yêu cầu chung về tính rõ ràng, dễ hiểu của nội dung hợp đồng theo mẫu (Điều 7, Nghị định số 99/2011/NĐ-CP). Tuy nhiên, với một số loại hình hợp đồng đặc thù như hợp đồng cung cấp dịch vụ liên tục, Khoản 1 Điều 18 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP quy định: 
     “1. Hợp đồng cung cấp dịch vụ liên tục phải có những nội dung sau:
     a) Tên, địa chỉ liên lạc của tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ;
     b) Mô tả dịch vụ được cung cấp;
     c) Chất lượng dịch vụ;
     d) Thời điểm và thời hạn cung cấp dịch vụ;
     đ) Cách thức tính phí, giá dịch vụ;
     e) Phương thức cung cấp dịch vụ và phương thức thanh toán.” 

    Tương tự cách tiếp cận của Nghị định số 99/2011/NĐ-CP, một số quy định pháp luật chuyên ngành cũng quy định về hình thức và nội dung tối thiểu/(bắt buộc) phải có trong một số loại hợp đồng giao kết với khách hàng. Theo đó, các nội dung phải có trong hợp đồng thường bao gồm: thông tin các bên; đối tượng của hợp đồng; chất lượng, giá cả của hàng hóa/dịch vụ; phương thức thanh toán/giao nhận; thời hạn của hợp đồng; quyền và nghĩa vụ của các bên; chấm dứt hợp đồng; vi phạm hợp đồng; giải quyết tranh chấp; nội dung khác do các bên thỏa thuận; v.v. Ngoài ra, hợp đồng giao kết có thể phải có những nội dung khác tùy thuộc đặc thù lĩnh vực ngành và đặc thù giao kết hợp đồng. 
     Ví dụ: (i) Điều 9 Luật Bưu chính năm 2010 quy định những nội dung chính phải có của hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính; (ii) Điều 13 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 quy định những nội dung phải có của hợp đồng bảo hiểm; (iii) Điều 39 Luật Du lịch năm 2017 quy định các nội dung phải có trong hợp đồng lữ hành; (iv) Điều 22 Luật Điện lực năm 2004 quy định những nội dung phải có trong hợp đồng mua bán điện có thời hạn; v.v.
     Như vậy, trước khi áp dụng hoặc chấp nhận giao kết hợp đồng, tổ chức, cá nhân có liên quan và người tiêu dùng cần chủ động nghiên cứu, tìm hiểu các quy định pháp luật có yêu cầu về các nội dung phải có trong hợp đồng làm nền tảng quan trọng đảm bảo quá trình thực thi hợp đồng giữa các bên, đặc biệt là cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp (nếu phát sinh).
    3. Tính rõ ràng, dễ hiểu của các điều khoản trong hợp đồng giao kết
    Yêu cầu về tính rõ ràng, dễ hiểu được quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định 99/2011/NĐ-CP. Bản chất của hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung nói chung là tính đơn phương đưa ra các điều khoản giao kết. Chính vì vậy, sự rõ ràng, minh bạch và dễ hiểu cho mọi người tiêu dùng là tiêu chí bắt buộc để đảm bảo người tiêu dùng hiểu rõ và đầy đủ nội dung hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trước khi quyết định tham gia giao dịch. Đánh giá tiêu chí rõ ràng, dễ hiểu không phải là một việc khó, tuy nhiên cần lưu ý các điểm sau: (i) Các điều khoản này thường xuất hiện khá nhiều, vì vậy cần thận trọng để tránh bỏ sót; (ii) Cần đọc kỹ, phân tích nội dung nào trong điều khoản chưa rõ ràng, dễ hiểu; từ đó đưa ra yêu cầu cụ thể để doanh nghiệp làm rõ, sửa đổi hoặc quyết định có giao kết hay không.


     Có thể tham khảo một số ví dụ sau để nhận diện các điều khoản không đảm bảo yêu cầu về tính rõ ràng, dễ hiểu:
     Ví dụ 1: Các cụm từ như “các chi phí phát sinh khác”, “các khoản chi phí phát sinh hợp lý”, “các giấy tờ khác theo yêu cầu của Bên Bán”.
     Khi đối tượng hợp đồng đã xác định rõ ràng, đã được cụ thể hóa, lượng hóa bằng những thông số về số lượng, chất lượng, giới hạn cung cấp… thì bên bán hoàn toàn có đầy đủ khả năng xác định hoặc lường trước tất cả những chi phí để thực hiện nghĩa vụ cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo hợp đồng. Những quy định mang tính chất mơ hồ như trên đã trao quyền cho tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc mở rộng nghĩa vụ của người tiêu dùng.
     Ví dụ 2: "Chỉ sau khi Bên Bán thu được đủ toàn bộ số tiền mua bán Căn Hộ từ người mua mới, bên bán sẽ hoàn trả..."
     Trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng, ví dụ như hợp đồng mua bán căn hộ chung cư, các bên cần xác định rõ thời điểm sẽ thực hiện các nghĩa vụ tài chính/các chế tài xử lý vi phạm cho bên kia trong khoảng thời gian nào. Một số các quy định mang tính chất mơ hồ như ví dụ nêu trên vẫn được bên bán sử dụng nhằm né tránh sự ràng buộc của một chế tài cụ thể. Theo đó, nếu không xác định chính xác thời điểm hoàn trả, các bên rất dễ rơi vào tranh chấp về thời điểm phát sinh nghĩa vụ do bên bán là bên chủ động nắm nhu cầu và mong muốn khác nhau.
     Ví dụ 3: Hợp đồng sử dụng các thuật ngữ chuyên ngành gây khó hiểu; các cụm từ viết tắt/bằng tiếng ngoài mà không có phần giải thích rõ ràng; nội dung quy định người tiêu dùng phải tuân thủ, thực hiện theo các hướng dẫn/quy định/chính sách của doanh nghiệp nhưng không dẫn chiếu cụ thể đến nguồn quy định các nội dung đó.
Trường hợp này, cần làm rõ theo hướng  bổ sung phần giải thích cho các thuật ngữ chuyên ngành/cụm từ viết tắt/tiếng nước ngoài đảm bảo người tiêu dùng có thể đọc và hiểu được toàn bộ nội dung của hợp đồng/điều kiện giao dịch chung; bổ sung dẫn chiếu đến nguồn (chứa) tài liệu cụ thể để người tiêu dùng có thể chủ động tiếp cận và tìm hiểu, ví dụ “quy định của công ty được niêm yết/công khai tại quầy giao dịch/website của công ty”…
      4. Tính hiệu lực của các điều khoản theo quy định pháp luật
     Tính hiệu lực của các điều khoản được quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật BVQLNTD với chín (09) trường hợp được quy định là điều khoản của hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, điều kiện giao dịch chung không có hiệu lực. Có thể tham khảo một số ví dụ sau để nhận diện các điều khoản không có hiệu lực; từ đó tránh soạn thảo, giao kết các hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung có nội dung này:
     Ví dụ 1: “Bằng việc ký kết hợp đồng này, khách hàng cam kết sẽ không có bất kỳ khiếu nại, khiếu kiện hay truy đòi liên quan đến những khoản phí đã được thanh toán từ Khách hàng hoặc theo chỉ định của Khách hàng đối với Ngân hàng”.
     Quy định này hạn chế, loại trừ quyền khiếu nại, khởi kiện của người tiêu dùng và thuộc trường hợp điều khoản không có hiệu lực theo quy định pháp luật. Theo đó, hướng sửa đổi là cần loại bỏ điều khoản này và soạn thảo lại nội dung cho phù hợp pháp luật.
     Ví dụ 2: “Trong trường hợp Bên Bán và Bên Mua không thống nhất trong cách hiểu về bất kỳ điều khoản nào của Hợp đồng, cách hiểu của Bên Bán sẽ được áp dụng”.
     Quy định này cho phép doanh nghiệp giải thích hợp đồng trong trường hợp điều khoản của hợp đồng được hiểu khác nhau và thuộc trường hợp điều khoản không có hiệu lực theo quy định pháp luật. Theo đó, cần sửa đổi theo hướng như: “Trong trường hợp Bên Bán và Bên Mua không đồng nhất trong cách hiểu về bất kỳ điều khoản nào của Hợp đồng, hai bên sẽ thỏa thuận nội dung điều khoản đó trong phụ lục hợp đồng. Nếu không thống nhất được thì điều khoản đó sẽ do tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giải thích theo hướng có lợi cho Bên Mua”.
     Ví dụ 3: “Chúng tôi không chịu trách nhiệm dưới bất kỳ hình thức nào đối với Hành khách về các hướng dẫn hay thông báo mà nhân viên của Chúng tôi hay Đại lý được chỉ định cung cấp liên quan đến việc xin các giấy tờ hoặc thị thực cần thiết hoặc việc tuân theo pháp luật, quy chế, sắc lệnh, các yêu cầu, đòi hỏi, các quy định và hướng dẫn”.
Quy định này cho phép loại trừ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong trường hợp nhân viên, đại lý cung cấp thông tin không chính xác. Hướng sửa đổi là cần loại bỏ, soạn thảo lại điều khoản này đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật.
    5. Tính phù hợp với các quy định pháp luật BVQLNTD và pháp luật khác có liên quan
    Ngoài việc phải tuân thủ các quy định pháp luật BVQLNTD, một hợp đồng giao kết giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng cũng chịu sự điều chỉnh của pháp luật khác có liên quan như Bộ Luật Dân sự 2015, các quy định pháp luật chuyên ngành. Ví dụ: hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ viễn thông chịu sự điều chỉnh của pháp luật viễn thông; hợp đồng cung cấp và sử dụng thẻ, tài khoản ngân hàng chịu sự điều chỉnh của pháp luật các tổ chức tín dụng; hợp đồng mua bán căn hộ chung cư chịu sự điều chỉnh của pháp luật về nhà ở, pháp luật kinh doanh bất động sản; hợp đồng bảo hiểm nhân thọ chịu sự điều chỉnh của pháp luật kinh doanh bảo hiểm; v.v.
Bởi vậy, việc chủ động tìm hiểu, nghiên cứu đầy đủ các quy định pháp luật có liên quan đến đối tượng, nội dung, mục đích của hợp đồng giao kết là điều cần thiết để đảm bảo tính pháp lý, toàn diện và hiệu quả trong quá trình giao dịch, thực thi hợp đồng giữa các bên. 
    6. Một số lưu ý khác
    Để đảm bảo quyền lợi, hạn chế các tranh chấp phát sinh từ những điều khoản không đầy đủ, rõ ràng và thiếu lành mạnh, người tiêu dùng cũng cần lưu ý: 
    - Đề nghị doanh nghiệp cung cấp đầy đủ bộ hợp đồng dự định giao kết.
    - Chủ động tìm hiểu hoặc yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin về việc hoàn thành nghĩa vụ đăng ký HĐTM, ĐKGDC (trong trường hợp phải đăng ký theo quy định). 
    - Dành thời gian nghiên cứu kỹ tất cả các điều khoản, nội dung của bộ hợp đồng; khi thấy các nội dung, thông tin trong hợp đồng chưa rõ ràng, đầy đủ thì cần đề nghị doanh nghiệp giải thích, làm rõ và sửa đổi, bổ sung trước khi quyết định giao dịch.
    Với doanh nghiệp cần lưu ý:
    - Chấp hành quy định pháp luật về nghĩa vụ đăng ký HĐTM, ĐKGDC theo Luật BVQLNTD.
    - Chủ động cung cấp đầy đủ thông tin về giao dịch, cung cấp các điều khoản của bộ hợp đồng dự định giao kết để người tiêu dùng có thể nghiên cứu, xem xét.
    - Chủ động nghiên cứu, cập nhật đầy đủ các quy định pháp luật có liên quan trong quá trình soạn thảo các điều khoản của HĐTM, ĐKGDC; đảm bảo tính pháp lý, bình đẳng của hợp đồng giao kết, đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng theo quy định pháp luật.

Nguồn: Phòng Kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung

Sự kiện