Trang chủ Tin tức

Đôi nét về Hiệp định EVFTA và nội dung cam kết về cạnh tranh trong Hiệp định Thương mại tự do EVFTA

24/11/2021 - Đôi nét về Hiệp định EVFTA và nội dung cam kết về cạnh tranh trong Hiệp định Thương mại tự do EVFTA

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới giữa Việt Nam và 28 nước thành viên của Liên minh Châu Âu (EU). EVFTA cùng với Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là hai FTA có phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết cao nhất của Việt Nam từ trước tới nay.
 Ngày 01 tháng 12 năm 2015, EVFTA đã chính thức kết thúc đàm phán và đến ngày 01 tháng 02 năm 2016, văn bản hiệp định được công bố. Ngày 26 tháng 6 năm 2018, một bước đi mới của EVFTA được thống nhất, theo đó EVFTA được tách làm hai hiệp định, một là Hiệp định Thương mại (EVFTA) và hai là Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA); đồng thời chính thức kết thúc quá trình rà soát pháp lý đối với Hiệp định EVFTA.
EVFTA được ký kết vào ngày 30 tháng 6 năm 2019 và được phê chuẩn bởi Nghị viện Châu Âu vào ngày 12 tháng 02 năm 2020, và được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn vào ngày 08 tháng 6 năm 2020.
Hiệp định EVFTA được khởi động và kết thúc đàm phán trong bối cảnh quan hệ song phương Việt Nam - EU ngày càng phát triển tốt đẹp, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế - thương mại. EU là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam với kim ngạch hai chiều năm 2019 đạt 56,45 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 41,5 tỷ USD, nhập khẩu từ EU đạt 14,9 tỷ USD. EVFTA là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao và đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả Việt Nam và EU, trong đó cũng đã lưu ý đến chênh lệch về trình độ phát triển giữa hai bên.
Khi được đưa vào thực thi, EVFTA sẽ là cú hích rất lớn cho xuất khẩu của Việt Nam, giúp đa dạng hóa thị trường và mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng nông, thủy sản cũng như những mặt hàng Việt Nam vốn có nhiều lợi thế cạnh tranh. Những cam kết dành đối xử công bằng, bình đẳng, bảo hộ an toàn và đầy đủ cho các khoản đầu tư và nhà đầu tư của nhau cũng sẽ góp phần tích cực vào việc xây dựng môi trường pháp lý và đầu tư minh bạch, từ đó Việt Nam sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư hơn đến từ EU và các nước khác.
Về mặt chiến lược, việc đàm phán và thực thi EVFTA cũng gửi đi một thông điệp tích cực về quyết tâm của Việt Nam trong việc thúc đẩy sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới trong bối cảnh tình hình kinh tế địa chính trị đang có nhiều diễn biến phức tạp và khó đoán định.
Hiệp định EVFTA là một hiệp định toàn diện, chất lượng cao, cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và EU, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Trước hết, cam kết mở cửa thị trường mạnh mẽ trong Hiệp định EVFTA chắc chắn sẽ thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - EU, giúp mở rộng hơn nữa thị trường cho hàng xuất khẩu của Việt Nam. Với cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu lên tới gần 100% biểu thuế và giá trị thương mại mà hai bên đã thống nhất, cơ hội gia tăng xuất khẩu cho những mặt hàng Việt Nam có lợi thế như dệt may, da giày, nông thủy sản (kể cả gạo, đường, mật ong, rau củ quả), đồ gỗ, ...v.v. là rất đáng kể. Mức cam kết trong EVFTA có thể coi là mức cam kết cao nhất mà Việt Nam đạt được trong các FTA đã được ký kết cho tới nay. Điều này càng có ý nghĩa khi hiện nay, mới chỉ hơn 42% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU được hưởng mức thuế 0% theo Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập.
Theo dự báo, Hiệp định EVFTA sẽ giúp kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng thêm khoảng 20% vào năm 2020; 42,7% vào năm 2025 và 44,37% vào năm 2030 so với không có Hiệp định. Kim ngạch nhập khẩu từ EU cũng tăng nhưng tốc độ thấp hơn xuất khẩu, cụ thể là khoảng 15,28% vào năm 2020; 33,06% vào năm 2025 và 36,7% vào năm 2030. Về mặt vĩ mô, EVFTA góp phần làm GDP của Việt Nam tăng thêm bình quân 2,18 - 3,25% (năm 2019 - 2023); 4,57 - 5,30% (năm 2024 -2028) và 7,07 - 7,72% (năm 2029 - 2033).
Ngoài ra, những cam kết về dịch vụ - đầu tư, mua sắm chính phủ cũng như những quy định cụ thể về mở cửa thị trường và biện pháp kỹ thuật trong một số lĩnh vực cụ thể cũng sẽ tạo cơ hội cho doanh nghiệp, sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của EU tiếp cận được thuận lợi hơn thị trường gần 100 triệu dân của Việt Nam, đồng thời giúp người tiêu dùng Việt Nam được tiếp cận nguồn cung các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao từ EU trong các lĩnh vực như dược phẩm, chăm sóc sức khỏe, xây dựng hạ tầng và giao thông công cộng… Bên cạnh đó, những cam kết về quản trị nhà nước sẽ đảm bảo một môi trường kinh doanh và pháp lý ổn định, thông thoáng cho nhà đầu tư của cả hai bên nói chung và các doanh nghiệp, nhà đầu tư từ EU nói riêng.
Thông qua EVFTA, nhà đầu tư EU cũng sẽ có cơ hội tiếp cận thị trường các nước đã ký FTA với Việt Nam với những đối xử ưu đãi hơn. Hiệp định này cũng giúp thúc đẩy quan hệ giữa EU với từng nước ASEAN nói riêng và cả khối ASEAN nói chung, tạo tiền đề hướng tới việc thảo luận một Hiệp định FTA giữa EU và ASEAN trong tương lai.
Năm 2019, EU có 2.375 dự án (tăng 182 dự án so với năm 2018) từ 27/28 quốc gia thuộc EU còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký 25,49 tỷ USD (tăng 1,19 tỷ USD) chiếm 7,70% số dự án của cả nước và chiếm 7,03% tổng vốn đầu tư đăng ký của các nước. Trong đó Hà Lan đứng đầu với 344 dự án và 10,05 tỷ USD, chiếm 39,43% tổng vốn đầu tư của EU tạiViệt Nam (tăng 26 dự án và 692,76 triệu USD vốn đầu tư). Vương quốc Anh đứng thứ hai với 380 dự án và 3,72 tỷ USD tổng vốn đầu tư, chiếm 14,58% tổng vốn đầu tư (tăng 29 dự án và 210,10 triệu USD vốn đầu tư. Pháp đứng thứ ba với 563 dự án và 3,60 tỷ USD tổng vốn đầu tư, chiếm 14,13% tổng vốn đầu tư (tăng 23 dự án nhưng giảm 72,07 triệu USD vốn đầu tư).
Hiệp định EVFTA bao gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ kèm theo với các nội dung chính là: thương mại hàng hóa (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), quy tắc xuất xứ, hải quan và thuận lợi hóa thương mại, các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm, các rào cản kỹ thuật trong thương mại, thương mại dịch vụ (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, thương mại và Phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng năng lực, các vấn đề pháp lý - thể chế.
Trong đó, nội dung cam kết về cạnh tranh trong Hiệp định EVFTA được xây dựng nhằm đảm bảo thiết lập và duy trì khuôn khổ cạnh tranh bình đẳng, qua đó thúc đẩy mục tiêu về thương mại và đầu tư giữa hai bên. Để đạt được mục tiêu đó, một trong những nội dung quan trọng là việc các nước cần tuân thủ và thực thi các cam kết về minh bạch hóa. Nội dung cam kết về cạnh tranh trong Hiệp định EVFTA được quy định tại Chương 10 (Chính sách cạnh tranh) của Hiệp định với các nội dung cụ thể sau:
Hành vi phản cạnh tranh
Điều 10.1. Các nguyên tắc, theo đó quy định các Bên công nhận tầm quan trọng của môi trường cạnh tranh không bị bóp méo hay bị làm sai lệch trong quan hệ thương mại và đầu tư giữa các Bên. Các Bên nhận thức rằng hành vi phản cạnh tranh có khả năng làm sai lệch sự vận hành đúng đắn của thị trường và làm suy giảm lợi ích của tự do hóa thương mại.
Điều 10.2. Khuôn khổ pháp lý, theo đó quy định các Bên phải ban hành để áp dụng hoặc duy trì thực thi pháp luật cạnh tranh hiệu quả gồm các quy định cấm đối với hành vi phản cạnh tranh, với mục tiêu thúc đẩy hiệu quả kinh tế và phúc lợi cho người tiêu dùng, đồng thời phải có những động thái thực thi phù hợp và tích cực các quy định của pháp luật cạnh tranh. Pháp luật cạnh tranh, hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ của mỗi Bên, phải quy định kiểm soát hiệu quả (i) thỏa thuận giữa các doanh nghiệp, quyết định của hiệp hội doanh nghiệp và các hành vi phối hợp giữa các chủ thể có mục đích hoặc tác động ngăn cản, hạn chế hoặc bóp méo/làm sai lệch cạnh tranh; (ii) hành vi lạm dụng của doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường; và các hoạt động tập trung kinh tế giữa các doanh nghiệp gây hạn chế một cách đáng kể đến cạnh tranh hiệu quả trên thị trường.
Điều 10.3. Thực hiện, theo đó quy định mỗi Bên phải đảm bảo duy trì thẩm quyền trong xây dựng và thực thi pháp luật cạnh tranh của mình. Mỗi Bên phải đảm bảo duy trì các cơ quan có trách nhiệm, thẩm quyền áp dụng đầy đủ và thực thi có hiệu quả pháp luật cạnh tranh, và đảm bảo rằng các cơ quan này được trang bị phù hợp và có những thẩm quyền cần thiết để thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Mọi doanh nghiệp, tư nhân hoặc nhà nước, đều thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh như được đề cập tại Điều 10.2 (Khuôn khổ pháp lý). Mỗi Bên phải áp dụng pháp luật cạnh tranh một cách minh bạch và trên nguyên tắc không phân biệt đối xử, giữa doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước, tôn trọng và đảm bảo nguyên tắc công bằng trong tố tụng và quyền được tự bảo vệ của các doanh nghiệp có liên quan. Việc áp dụng pháp luật cạnh tranh không được gây cản trở cho việc thực thi, theo quy định của luật hoặc trong thực tế, các hoạt động đặc thù vì lợi ích công cộng mà doanh nghiệp được giao thực hiện. Quy định về miễn trừ áp dụng pháp luật cạnh tranh của một Bên phải được giới hạn trong phạm vi các hoạt động vì lợi ích công cộng, phù hợp với các mục tiêu chính sách công đã được đặt ra và sự minh bạch.
Các định nghĩa và nguyên tắc chung
Điều 10.11. Các định nghĩa, theo đó quy định “mục tiêu chính sách công” là mục tiêu chung nhằm đạt được lợi ích công tổng thể; và “nhiệm vụ công ích” là hoạt động cụ thể nhằm đạt được lợi ích công tổng thể mà thị trường không thể cung cấp hoặc chỉ có thể cung cấp với các điều kiện khác nhau về khả năng tiếp cận, chất lượng, tính an toàn, khả năng chi trả hoặc đối xử bình đẳng mà không có sự can thiệp của khu vực công.
Điều 10.12. Bảo mật, theo đó quy định trong quá trình trao đổi thông tin theo quy định của Chương này, các Bên phải xem xét các hạn chế được quy định theo pháp luật tương ứng liên quan đến bí mật chuyên môn và bí mật kinh doanh và phải đảm bảo việc bảo vệ bí mật kinh doanh và các thông tin mật khác. Bên tiếp nhận thông tin phải bảo mật bất cứ thông tin nào được trao đổi theo thoả thuận này trừ trường hợp Bên kia cho phép tiết lộ hoặc công khai.
Điều 10.13. Giải quyết tranh chấp, theo đó quy định không bên nào đƣợc yêu cầu giải quyết tranh chấp theo Hiệp định này đối với bất kỳ vấn đề nào phát sinh tại Mục A (Hành vi phản cạnh tranh) của Chương này và Điều 10.8 (Tham vấn).
Điều 10.14. Hợp tác, theo đó quy định để hoàn thành các mục tiêu của Chương này và nhằm tăng cường thực thi pháp luật cạnh tranh có hiệu quả, các Bên thừa nhận rằng việc tăng cường hợp tác về phát triển chính sách cạnh tranh, bao gồm kiểm soát trợ cấp, là vì lợi ích chung, tùy thuộc vào sự sẵn có của nguồn tài trợ theo các công cụ và chương trình hợp tác của các Bên. 
Hợp tác trong thực thi cam kết về cạnh tranh trong Hiệp định EVFTA
Hợp tác trong thực thi các cam kết về cạnh tranh là nội dung được quy định cụ thể tại Điều 10.14 Hiệp định EVFTA. Theo đó để hoàn thành các mục tiêu của chương về chính sách cạnh tranh và nhằm tăng cường thực thi pháp luật cạnh tranh có hiệu quả, các Bên thừa nhận rằng việc tăng cường hợp tác về phát triển chính sách cạnh tranh là vì lợi ích chung, tùy thuộc vào sự sẵn có của nguồn tài trợ theo các công cụ và chương trình hợp tác của các Bên.
Mặc dù về cơ chế, phương thức và nội dung hợp tác trong thực thi cam kết về cạnh tranh chưa được đề cập cụ thể trong Hiệp định EVFTA. Tuy nhiên, từ thực tiễn có thể xác định nội dung hợp tác trong thực thi cam kết về cạnh tranh có thể bao gồm:
- Hợp tác trong quá trình điều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh cụ thể (case-specific cooperation). Trong các vụ việc cạnh tranh, đặc biệt là các vụ việc cạnh tranh xuyên biên giới, khi những thông tin/chứng cứ phục vụ công tác điều tra và xử lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật cạnh tranh không còn giới hạn trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, mà vượt ra ngoài lãnh thổ của một quốc gia, có liên quan tới nhiều quốc gia thành viên Hiệp định EVFTA thì việc hợp tác giữa các cơ quan cạnh tranh là rất cần thiết thông qua những hoạt động cụ thể sau:
+ Chia sẻ thông tin vụ việc: thông tin liên quan đến tình trạng vụ việc (đã, đang trng quá trình hoặc đã kết thúc điều tra); thông tin về vụ việc đã được công bố. Chia sẻ thông tin kinh tế liên quan đến vụ việc…v.v.
+ Chia sẻ tài liệu/chứng cứ vụ việc;
+ Tham khảo phương thức, lý thuyết áp dụng trong điều tra xử lý vụ việc (lý thuyết tác hại (theory of harm), lý thuyết vi phạm (theory of violations));
+ Phối hợp cùng hành động để thu thập chứng cứ (khám xét);
+ Hỗ trợ cơ quan cạnh tranh nước bạn trong việc điều tra thu thập chứng cứ đối với hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh;
+ Tham khảo phương thức đánh giá vụ việc, thảo luận đưa ra kết luận xử lý vụ việc qua đó sẽ giúp giảm thiểu xung đột/khác biệt trong kết quả xử lý cùng một vụ việc (bởi các cơ quan cạnh tranh khác nhau) và nhờ đó có thể đưa ra phương thức/quyết định xử lý vụ việc thoả đáng;
+ Sử dụng kết quả của cơ quan cạnh tranh nước bạn phục vụ công tác điều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh liên quan.
- Hợp tác không qua các vụ việc cụ thể (non-case-specific cooperation). Bên cạnh hợp tác để điều tra và xử lý trong một vụ việc cụ thể, các cơ quan cạnh tranh của các quốc gia thành viên Hiệp định EVFTA còn có thể triển khai các hoạt động hợp tác nhằm hỗ trợ tăng cường hiệu quả thực thi luật và chính sách cạnh tranh. Đó là những hoạt động hợp tác giữa các cơ quan cạnh tranh thông qua:
+ Tham gia diễn đàn cạnh tranh (hội nghị, hội thảo, toạ đàm, khoá đào tạo, tập huấn, khảo sát về cạnh tranh) quốc tế nhằm học tập kiến thức, chia sẻ kinh nghiệm nâng, thảo luận những nội dung quan trọng… nhằm cao năng lực thực thi luật và chính sách cạnh tranh của các cơ quan cạnh tranh;
+ Trao đổi chuyên gia, cán bộ thực tập, hỗ trợ kỹ thuật tăng cường năng lực về xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật cạnh tranh;
+ Tham gia triển khai các hoạt động nhằm tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức và tuân thủ pháp luật cạnh tranh trong và ngoài khu vực;
+ Xây dựng và xuất bản ấn phẩm chung về cạnh tranh.
Như vậy, hợp tác quốc tế trong thực thi luật và chính sách cạnh tranh trong khuôn khổ Hiệp định EVFTA khi được triển khai sẽ mang đến nhiều lợi ích cho cơ quan cạnh tranh của cả hai bên trong quá trình thực thi luật và chính sách cạnh tranh, cụ thể là hỗ trợ công tác điều tra vụ việc cạnh tranh và tăng cường năng lực thực thi luật và chính sách cạnh tranh. Quá trình các cơ quan cạnh tranh của hai bên phối hợp với nhau/hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình điều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh sẽ giúp cho các cơ quan cạnh tranh có cơ hội cập nhật kiến thức mới về thực thi luật và chính sách cạnh tranh, trao đổi chuyên môn nghiệp vụ, chia sẻ phương thức làm việc hiệu quả, bổ sung kinh nghiệm cho nhau qua đó hình thành và phát triển những phương pháp làm việc/thông lệ tốt. Đây là một trong những kênh hiệu quả giúp tăng cường năng lực thực thi luật và chính sách cạnh tranh cho cả hai bên. Thông qua vụ việc cạnh tranh xuyên biên giới, kinh nghiệm có được trong hợp tác có thể được áp dụng vào vụ việc trong nước giúp cơ quan cạnh tranh tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh đối với vụ việc cạnh tranh trong nước.
Ngoài ra, hợp tác quốc tế còn giúp cơ quan cạnh tranh hai bên có thể đạt được nhiều phương diện lợi ích khác. Đối với các vụ việc cạnh tranh xuyên biên giới, quá trình phối hợp điều tra cùng nhau giữa các cơ quan cạnh tranh sẽ giúp cho vụ việc được tiến hành điều tra một cách minh bạch hơn, đạt hiệu quả cao hơn. Quan trọng hơn, trong bối cảnh hầu hết cơ quan cạnh tranh còn có sự hạn chế đáng kể về nguồn lực, thì quá trình hợp tác sẽ giúp tránh được việc lãng phí nguồn lực do trùng lắp hoạt động khi nhiều cơ quan cạnh tranh cùng điều tra và xử lý cùng một vụ việc. Cơ quan cạnh tranh của một bên có thể sử dụng phương thức xử lý và kết quả điều tra vụ việc cạnh tranh của của cơ quan bên kia khi biết rằng cơ quan cạnh tranh đó đang xử lý cùng một vụ việc và cách thức xử lý vụ việc cạnh tranh của cơ quan bạn giải quyết được những quan ngại về cạnh tranh tương tự như của cơ quan mình. Thông qua quá trình hợp tác/phối hợp trong điều tra và xử lý vụ việc, về lâu dài sẽ trở thành công cụ thúc đẩy việc hài hoà hoá quy định pháp luật cũng như quy trình thủ tục trong thực thi pháp luật cạnh tranh giữa hai bên. Ngoài ra, hợp tác còn giúp tăng cường hiểu biết, tạo dựng niềm tin, thắt chặt quan hệ bền chặt giữa các cơ quan cạnh tranh hai bên; hỗ trợ thực hiện đầy đủ cam kết về cạnh tranh mà hai bên đã đặt ra. Mặt khác, một lợi ích cũng không kém phần quan trọng là hợp tác quốc tế còn giúp cho cơ quan cạnh tranh có thể tăng cường được uy tín, tiếng nói của cơ quan cạnh tranh. Khi có vấn đề trong nước khó giải quyết, việc áp dụng thông lệ quốc tế để giải quyết cũng là một phương cách hữu ích và điều này cũng không ngoại lệ trong điều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh.
Tuy nhiên, để triển khai hoạt động hợp tác, các cơ quan cạnh tranh cũng cần lưu ý đến một số chi phí/khó khăn nhất định như:
+ Chi phí về nguồn lực để tiến hành hoạt động hợp tác, đó là chi phí đầu tư đào tạo con người với kiến thức chuyên môn về hợp tác quốc tế; chi phí tài chính, thời gian dành để triển khai hoạt động hợp tác như chi phí bố trí đi lại, tổ chức cuộc họp, gặp gỡ, trao đổi;
+ Khác biệt về khuôn khổ pháp lý nói chung và về khuôn khổ luật và chính sách cạnh tranh nói riêng. Những khác biệt này bao gồm cả sự khác nhau về khung thời gian tiến hành điều tra, xử lý vụ việc; lượng thời gian cho phép đối với từng giai đoạn khác nhau của vụ việc. Đây là những rào cản không nhỏ trong quá trình phối hợp điều tra xử lý vụ việc;
+ Khó khăn về những thủ tục hành chính liên quan trong quá trình hợp tác. Rào cản ngôn ngữ, cách xa về mặt địa lý, chênh lệch múi giờ. Đặc biệt là quy định về bảo mật thông tin của từng quốc gia là những điều mà cơ quan cạnh tranh cần phải tính đến khi tham gia vào hoạt động hợp tác quốc tế trong thực thi luật và chính sách cạnh tranh.
 

Nguồn: TRUNG TÂM THÔNG TIN, TƯ VẤN VÀ ĐÀO TẠO

Sự kiện